Dialogo è accettare l'altro come è e come egli stesso si definisce e si presenta a noi, di non cessare di essere se stessi mentre ci si confronta con il diverso, di essere consapevoli che la nostra identità esce arricchita e non sminuita da chi di questa identità non accetta alcuni elementi, magari anche quelli che noi riteniamo fondamentali. La riconciliazione è possibile, tra i cristiani e nella compagnia degli uomini. (Enzo Bianchi, priore della Comunità di Bose)


MATTEO RICCI NHÀ TRUYỀN GIÁO KHÔNG MỆT MỎI

di Antôn-Phaôlô, S.J.

Đối với người Trung Hoa giáo sĩ thừa sai dòng Tên Matteo Ricci (1552-1610) là một nhân vật thần kỳ. Từ Âu Châu xa xôi, ông đã đến truyền giáo ở Trung Hoa dưới triều Minh Thần Tông (niên hiệu Vạn Lịch). Với vốn Hán học uyên thâm cũng như kiến thức toán học, thiên văn, địa lý sâu rộng, ông đã từng bước chinh phục con tim và khối óc của người Hoa, thay đổi cả cái nhìn của họ về thế giới chung quanh. Từ thời Tần-Hán, Hán tộc đã tự cho mình là cái nôi văn hóa của thế giới, và xem những dân tộc khác là kém văn minh. Họ gọi những dân tộc khác là nam man, đông di, bắc hồ, tây địch – những tên gọi mang tính miệt thị dành cho những sắc tộc ngoài Trung Nguyên. Ricci đã thay đổi quan niệm đó qua phong cách và kiến thức của ông.

Những đóng góp của Ricci cho nền học thuật của Trung Hoa thật đáng nể. Ông đã viết gần một chục tác phẩm bằng chữ Hán. Một thân hữu và cộng sự viên của Ricci, Lí Chi Tảo (Li Zhizao, 1565-1630) đã cho ấn hành các tác phẩm của Ricci trong bộ Thiên Học Sơ Hàm (1629) – bộ sưu tập tác phẩm của các nhà truyền giáo dòng Tên thời kỳ đầu. Từ đó, Ricci đã đi vào văn học sử Trung Hoa. Ông là người Âu châu đầu tiên có các tác phẩm được in lại trong các bộ sưu tập danh tác văn chương Trung Hoa do triều đình ấn hành như Cổ Kim Đồ Thư Tập Thành (1725) và Tứ Khố Toàn Thư (1773).

Tuy không phải là người đầu tiên khai mở sứ vụ truyền giáo tại Trung Hoa, vinh dự đó thuộc về giáo sĩ dòng Tên Michele Ruggieri (1543-1607), nhưng Ricci là người Âu châu đầu tiên được đặt chân đến Tử Cấm Thành, sau hơn 18 năm dong duổi từ nam ra bắc. Dù không được diện kiến hoàng đế, ông được phép lưu lại ở đế đô để giảng đạo. Khi qua đời, ông đã được an táng với nghi lễ trọng thể dành cho giới quý tộc ở Bắc Kinh.

Ricci, Ngài là ai?

Hai mươi bảy năm Ricci hiện diện tại Trung Hoa đã kế thừa giấc mộng truyền giáo của thánh Phanxicô Xaviê (1509-1552). Lúc Xaviê qua đời ở đảo Thượng Xuyên, ngoài khơi tỉnh Quảng Đông, cũng là lúc Matteo Ricci gần được 2 tháng tuổi. Sinh ngày 6 tháng 10, năm 1552 tại Macerata, phía bắc Rôma trong một gia đình trung lưu, cậu đã theo học trường dòng Tên tại tỉnh nhà trong thời niên thiếu. Năm 16 tuổi cha cậu gửi cậu vào đại học La Sapienza ở Roma để học luật, với mong ước rằng sau này cậu có thể có một chức vụ trong lãnh địa của giáo hoàng. Nhưng Thiên Chúa lại có một chương trình khác cho cậu. Ba năm sau, ngày 15 tháng 8 năm 1571, cậu thanh niên 19 tuổi vào nhà tập dòng Tên ở Quirinale, ngoại ô Roma và được linh mục Alessandro Valignano, người thay thế cha giáo tập trong một tháng, đón tiếp. Đó là lần đầu tiên hai nhà truyền giáo thời danh tương lai gặp gỡ. Từ đó một già một trẻ đã cùng chia sẻ giấc mơ truyền giáo. Cả hai có cùng một chí hướng, một viễn tượng và một phương pháp rao giảng tin mừng cho các dân tộc Á Châu. Đó chính là tinh thần “hội nhập văn hóa”. Sau này chính Valignano đã bổ nhiệm Ricci là trưởng đoàn truyền giáo ở Trung Hoa.

Trong ba thế kỷ từ XV đến XVII, các hải đoàn Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha làm chủ các vùng biển trên thế giới. Những cuộc viễn du và khám phá của họ về những vùng đất mới và các dân tộc khác mà người Âu Châu chưa từng biết đến đã thay đổi nhiều quan niệm về địa lý và thế giới. Các bản đồ luôn được cập nhật liên tục, đòi hỏi những kiến thức về toán học và thiên văn địa lý. Những báo cáo của các thương nhân và các thừa sai tuyên úy của họ đã làm nhiều dòng tu Công giáo – Phanxicô, Đa minh, dòng Tên, Augustinô – náo nức với việc rao giảng Tin Mừng cho dân ngoại, vốn đã bị đình trệ vì các cuộc chiến tranh với người Hồi giáo từ thế kỷ XI.

Ricci cũng bị cuốn hút vào luồng sinh khí mới của công cuộc truyền giáo. Để trang bị cho mình những kiến thức cần thiết, ông đã chú tâm vào các môn tu từ học, triết học và toán học. Ở Collegio Romano (tiền thân của ĐH Gregogriana ngày nay), việc học văn chương cổ điển Latinh, Hy Lạp cũng như triết học đã đào luyện cho Ricci những tư tưởng căn bản của các tác giả kinh điển Tây phương như Cicero, Seneca, Aristotle, Epictetus – những tác giả mà sau này đã ảnh hưởng sâu đậm trên các tác phẩm của ông như Giao Hữu Luận (Luận về Tình Bạn), Tây Quốc Ký Pháp (Phương Pháp Học Thuộc Lòng của Tây Phương), Nhị Thập Ngũ Ngôn (25 Câu Nói). Ngoài ra Ricci cũng trau dồi về kỹ năng lý luận và biện giải mà sau này ông đã thực hành trong tác phẩm minh giáo nổi tiếng Thiên Chủ Thực Nghĩa (Lẽ Thật về Thiên Chúa).

Ở thế kỷ XVI, toán học bao gồm số học, đại số và hình học được coi là căn bản của các ngành khoa học tự nhiên khác như thiên văn, địa lý, âm nhạc và các ngành khoa học áp dụng như cơ học, kiến trúc và kỹ thuật. Trong thời gian tu học ở Collegio Romano, Ricci đã theo học toán và thiên văn với giáo sĩ dòng Tên người Đức Christoph Klau (Christophorus Clavius, 1537-1612) và được xem là một trong những sinh viên xuất xắc nhất của vị thầy thời danh này. Clavius đã được Đức Giáo Tông Gregoriô XVIII giao trách nhiệm cải tổ lịch Julian vốn đã được dùng từ năm 45 TCN mà càng ngày càng sai lệch với qũy đạo mặt trời, và các ngày lễ không còn đúng với thời tiết. Lịch Gregorianô, tức là dương lịch chúng ta dùng ngày nay, được ban hành vào năm 1582, là kết quả nghiên cứu của Clavius và các cộng sự viên, trong đó có Ricci. Năm 1589, Ricci đã soạn lịch mới này bằng chữ Hán để dùng tính các ngày lễ Công giáo cho các tín hữu. Nhưng vì việc soạn lịch là việc của triều đình, nên quyển lịch mới này đã không được ấn hành cho đến năm 1625 khi các giáo sĩ dòng Tên vào làm việc tại Khâm Thiên Giám ở Bắc Kinh.

Ngoài toán học và thiên văn, Ricci còn chú tâm đến môn địa lý và bản đồ học. Nhờ những kiến thức này mà sau này Ricci đã vẽ tấm bản đồ thế giới đầu tiên bằng chữ Hán, Dư Địa Sơn Hải Toàn Đồ vào năm 1584 (sau này được cập nhật và xuất bản rất nhiều lần dưới tên Khôn Dư Vạn Quốc Toàn Đồ ). Ricci còn học cách làm đồng hồ và các dụng cụ đo lường, trắc địa, mà sau này giúp ích rất nhiều cho việc truyền bá học thuật Tây phương ở Trung Hoa.

Những Bước Chân Âm Thầm của Nhà Truyền Giáo

Trong năm cuối của triết học ở Roma, Ricci đã gặp linh mục Martino da Silva, trưởng vùng truyền giáo Đông Ấn (Á Châu) khi đó vừa đến Roma để báo cáo công việc. Với sự khích lệ của cha, Ricci đã nộp đơn xin đi truyền giáo. Năm sau, 1577, mặc dù chưa học thần học, Ricci đã có tên trong danh sách các người được chỉ định đi phục vụ tại Châu Á. Cùng với Michele Ruggieri và các bạn, Ricci đi Lisbon để học tiếng Bồ và chờ tầu đi Goa, Ấn Độ. Trong thời gian chờ đợi, ông cũng ghi danh học thần học tại Đại học Coimbra.

Sau khi đến Goa, ông dạy tiếng La-tinh và Hy-lạp, và được thụ phong linh mục năm 1580. Hai năm sau, ông được gửi đi Macau để học tiếng Hoa và trợ giúp cho Ruggieri, người đã đến Macau vài năm trước đó để học ngôn ngữ và tìm cách tiếp cận với các quan chức Trung Hoa. Rút kinh nghiệm từ việc truyền giáo tại Nhật bản, vị Kinh Lược Sứ Alessandro Valignano, là đại diện bề trên tổng quyền tại Á Châu từ năm 1573, biết rằng việc truyền giáo tại Trung Hoa phải được chuẩn bị kỹ càng về nhân sự và có kế hoạch hẳn hoi. Vì thế Valignano triệu Ruggieri từ Goa đến Macau năm 1579 để học ngôn ngữ và văn hóa Trung Hoa.

Ruggieri gặp khá nhiều trở ngại trong vấn đề sinh ngữ nên đã yêu cầu bề trên gửi Ricci đến tiếp viện. Valignano đã chuẩn y lời thỉnh cầu này, và thế là ngày 7 tháng 8 năm 1582, Matteo Ricci đã đặt chân đến Macau để chuẩn bị cho sứ mạng truyền giáo ở Trung Hoa, một sứ mạng lịch sử đánh dấu một khởi đầu mới trong quan hệ giao lưu văn hóa Đông-Tây cũng như trong quan hệ Kitô giáo và Tam giáo đông phương. Chính Valignano cũng yêu cầu Ricci học tiếng Quan thoại – ngôn ngữ phổ thông của quan trường và giữa các nho gia – thay vì các phương ngữ như tiếng Quảng Đông hay Phúc Kiến.

Nhóm truyền giáo đã có mặt ở Macau từ năm 1575 với các thương nhân Bồ. Các giáo sĩ có thể theo các thương nhân vào thăm viếng lục địa vài ngày, nhưng không người ngoại quốc nào được phép ở lại. Sau nhiều lần vận động, Ruggieri đã được tổng đốc Lưỡng Quảng (Quảng Đông và Quảng Tây) cho phép tạm cư ở Triệu Khánh (Zhaoqing), một thị trấn nhỏ khoảng 110 km tây bắc của thủ phủ Quảng Châu. Tháng 9 năm sau 1583, Ricci chính thức đặt chân vào Hoa Lục cùng với Ruggieri. Công cuộc truyền giáo tại Trung Hoa khởi đầu từ đây.

Lúc đầu cả hai nhà truyền giáo đều cắt tóc ngắn và ăn mặc như các sư sãi, tự xưng là các đạo sĩ Tây phương. Khi đến Triệu Khánh, Matteo Ricci đã phiên âm tên mình thành Li Ma-dou 利瑪竇 (đọc theo Hán Việt là Lợi Mã Đậu), tên hiệu là Tây Thái. Trong những năm tháng tại miền Hoa Nam, Ricci miệt mài học ngôn ngữ và kinh thư để có thể đối thoại với các học giả Trung Hoa. Tại đây ông cũng cho in tấm bản đồ thế giới Dư Địa Sơn Hải Toàn Đồ vào năm 1584. Tấm bản đồ này đã gây một tiếng vang trong giới học thuật ở Trung Hoa. Lần đầu tiên người ta biết đến một người Tây dương thông thạo Hán ngữ đã mở mắt cho họ thấy một thế giới rộng lớn hơn Trung Nguyên rất nhiều.

Ricci học ngôn ngữ rất nhanh. Sau gần một năm học tiếng Quan thoại ở Macau, ông đã bắt đầu học sang Tứ Thư Ngũ Kinh, những sách kinh điển của nho gia. Đây quả là một kỳ tích vì Ricci vừa phải học ngôn ngữ, vừa phải tổ chức nhóm truyền giáo xây dựng cơ sở, trong những điều kiện không mấy thuận lợi. Sau khi Ruggieri rời Trung Hoa trở về châu Âu vào năm 1588, Ricci trở thành trưởng nhóm truyền giáo. Năm sau đó, nhóm truyền giáo lại bị quan tân tổng đốc Lưỡng Quảng, vì nghe lời dèm pha, đuổi ra khỏi Triệu Khánh. Cũng may là Ricci đã xin được phép để tái định cư ở Thiều Châu (Shaozhou) cũng còn gọi là Thiều Quan (Shaoguan) phía bắc của Triệu Khánh.

Mùa thu năm 1593, Matteo Ricci và Alessandro Valignano gặp nhau lần cuối cùng ở Macau. Trong lần họp mặt đó, với tư cách là Kinh Lược Sứ chịu trách nhiệm toàn bộ hoạt động truyền giáo tại Á Châu, Valignano đã yêu cầu Ricci phải tìm cách đẩy mạnh công cuộc truyền giáo, đi sâu hơn vào Hoa Lục, thay vì chỉ quanh quẩn ở Quảng Đông. Valignano nghĩ rằng, để công việc được lâu dài, Ricci cần phải tiếp xúc nhiều hơn với các quan chức triều đình, hầu tìm hậu thuẫn cho việc truyền giáo ở Trung Hoa. Ricci cho biết rằng các nho gia rất được dân chúng kính nể, mà nho gia lại không ưa các tăng sĩ và đạo sĩ. Thế là Valignano cho phép Ricci và nhóm thừa sai bỏ tăng bào, bắt đầu để râu tóc và ăn mặc theo lối nho gia, nhất là sau khi rời Thiều Châu.

Năm 1595, Ricci quyết định tìm đường lên đế đô Bắc Kinh qua ngả Nam Xương (Nanchang), thủ phủ của Giang Tây, và Nam Kinh, kinh đô cũ của nhà Minh. Nhưng Trời chưa chiều lòng người. Ông đã không xin được phép đi tiếp lên phía bắc, ngay cả được ở lại Nam Kinh, nên ông đành trở về Nam Xương. Ở đây ông đã xuất bản tác phẩm đầu tiên về tình bạn, quyển Giao Hữu Luận (Luận về Tình Bạn). Năm sau ông bắt tay vào việc soạn thảo một quyển giáo lý mà sau này được xuất bản năm 1603 ở Bắc Kinh dưới tựa đề Thiên Chủ Thực Nghĩa (Lẽ Thật về Thiên Chúa).

Mùa Năm 1598, Ricci có dịp cùng với vị thượng thư Bộ Lễ lên Bắc Kinh, nhưng vì tình hình không thuận lợi, nên ông đành trở về định cư ở Nam Kinh. Tại đây ông cũng đã giao du với các danh nho, quan lại, và có mấy người sau này cũng theo đạo: Từ Quang Khải (Paulus Xu Guangqi, 1592-1633) và Lý Chi Tảo (Leo Li Zhizao, 1565-1630) là hai trong số các thân hữu và cộng sự viên của ông đã đón nhận Tin Mừng. Tháng 5 năm 1600, một lần nữa Ricci cùng với Diego De Pantoja và hai tu huynh người Hoa lại tìm cách đến Bắc Kinh. Họ bị bắt và tất cả cống phẩm đều bị thái giám Mã Đường tịch thu. Sau nửa năm bị giam ở Thiên Tân, cuối cùng rồi Ricci và các bạn cũng đến được Bắc Kinh vào đầu năm 1601, và được phép ở lại. Thế là sau 18 năm lặn lội vất vả, cuối cùng Matteo Ricci cũng được tự do truyền đạo ở đế đô cho đến ngày ông qua đời vào 11 tháng 5 năm 1610, hưởng thọ 57 tuổi. Ricci đã làm nhiều người ngưỡng mộ, nên chính hoàng đế đã ban cho được an táng theo nghi lễ dành cho các quan chức triều đình, dù ông chưa bao giờ được diện kiến hoàng đế cũng như chưa từng làm quan nhà Minh.

Những Đóng Góp của Ricci trong việc Truyền Giảng Tin Mừng

Phương pháp rao giảng Tin Mừng của Ricci có thể tóm gọn trong cụm từ “hội nhập văn hóa”, nghĩa là dùng chính ngôn ngữ và văn hóa bản địa để chuyển tải giáo lý Thiên Chúa giáo. Ý thức được người Trung Hoa là một dân tộc có nền văn hóa khá cao, Ricci không thể áp dụng phương pháp “xóa sạch làm lại” (tabula rasa) như các nhà truyền giáo khác đã làm ở Nam Mỹ, Nam Ấn Độ hay Phi Luật Tân, nhưng ông phải đến với họ như một người bạn, một người thông hiểu văn hóa của họ. Đây cũng là chính sách của Alessandro Valignano, vị đặc nhiệm sứ vụ truyền giáo dòng Tên tại Á Châu.

Trước thập niên 1580, đa số các thừa sai, kể cả các thừa sai dòng Tên, đều cho rằng người Trung Hoa rất khó theo đạo. Điều này không ngạc nhiên vì tính từ năm 1552 khi thánh Phanxicô Xaviê qua đời ở Thượng Xuyên cho đến khi Ruggieri và Ricci đến Triệu Khánh vào năm 1583 thì ít nhất đã có 25 tu sĩ dòng Tên, 22 tu sĩ Phanxicô, 2 tu sĩ Âugustinô, và 1 tu sĩ Đa minh đã thử vào Hoa Lục truyền giáo nhưng không có nhóm nào lập được giáo điểm truyền giáo. Khi Valignano đến thăm trụ sở truyền giáo ở Macau vào năm 1578, ông thấy được ngay vấn đề. Đó là việc thiếu chuẩn bị về mặt ngôn ngữ và văn hóa cho các thừa sai. Ông liền đòi buộc các thừa sai phải học ngôn ngữ bản địa thay vì dựa trên các thông dịch viên – một quyết định gây nhiều chống đối vì một số thừa sai ở Macau cho rằng hàng rào ngôn ngữ Trung Hoa gần như không thể vượt qua. Khi Michele Ruggieri được sai đi thành lập giáo điểm truyền giáo ở Hoa Lục, ông buộc phải học ngôn ngữ, nhưng ông cảm thấy cô đơn vì chẳng có ai ủng hộ. Thế nên Ruggieri đã xin cho Ricci đến Macau để có bạn đồng hành.

Qua việc tiếp cận với ngôn ngữ và văn chương Trung Hoa, Ricci đã sớm thấy được sự ảnh hưởng của sách vở. Có thể nói rằng ông đã truyền giáo qua việc viết sách và in sách, cho dù trong thực tế ông không rửa tội được bao nhiêu người. Nhưng chính những tác phẩm của ông đã thu hút nhiều người đến với các giáo sĩ Tây phương, và qua các cuộc gặp gỡ này biết bao tâm hồn đã được thuyết phục bởi đạo lý của Thiên Chúa. Ricci không phân biệt giữa đạo và đời, giữa khoa học và thần học. Đối với ông mọi con đường đều dẫn đến Thiên Chúa. Vì vậy nên tư tưởng và các tác phẩm của ông được các cộng sự viên gọi là “Thiên Học” – cái học về đạo Trời. Các tác phẩm của Ricci có thể liệt kê thành nhiều thể loại:

Nhân Văn

1. Từ Vựng Bồ Hán: soạn chung với Ruggieri khoảng 1583-88, không xuất bản.

2. Giao Hữu Luận (1595): luận về tình bạn.

3. Tây Quốc Ký Pháp (1596): phép học thuộc lòng của Tây phương.

4. Nhị Thập Ngũ Ngôn (1599-1600): bản dịch quyển Encheiridion của Epitectus.

5. Kỳ Nhân Thập Phiên (1608): sách đạo đức học.

Âm Nhạc

6. Tây Cầm Khúc Ý Bát Chương (1601): tám ca khúc cho đàn Harpsicord

Giáo Lý

7. Tổ Truyền Thiên Chủ Thập Giới (1584): bàn về 10 điều răn, viết chung với Ruggieri ở Triệu Khánh. Cũng trong năm đó, Ricci và Ruggieri cùng dịch và in kinh Lạy Cha, kinh Kính Mừng và kinh Tin Kính.

8. Thiên Chủ Thực Nghĩa (1603): bàn về lẽ thật của đạo Thiên Chúa. Sách minh giáo có rất nhiều ảnh hưởng.

9. Thiên Chủ Giáo Yếu (1605): tóm lược giáo lý đạo Thiên Chúa.

10. Biện Học Di Độ (1607): sách biện giáo, trả lời những bài bác của Phật giáo.

Thiên Văn Địa Lý

11. Dư Địa Sơn Hải Toàn Đồ (1584): bản đồ thế giới.

12. Tứ Nguyên Hành Luận (1599-1600): bàn về 4 nguyên tố (nước lửa gió đất)

13. Lịch Niên: khoảng năm 1589, soạn lịch mới cho các tín hữu.

14. Kinh Thiên Cái: soạn chung với Li Chi Tảo về tên của các chòm sao theo Tây phương và Trung Hoa.

15. Càn Khôn Thể Nghĩa: soạn chung với Li Chi Tảo khoảng năm 1607-08, bàn về thiên văn dựa trên giáo trình của Christoph Klau (Clavius)

Toán Học (phần lớn soạn chung với người khác)

16. Kỷ Hà Nguyên Bản (1607): dịch chung với Từ Quang Khải quyển sách hình học của Euclid

17. Trắc Lượng Pháp Nghĩa (1607): soạn chung với Từ Quang Khải về phép đo lường

18. Đồng Văn Toán Chỉ: soạn chung với Lý Chi Tảo, bàn về số học dựa trên giáo trình của Clavius.

19. Hoàn Dung Giao Nghĩa: soạn chung với Lý Chi Tảo, bàn về hình học đối xứng dựa trên giáo trình của Clavius.

Khó Khăn và Giới Hạn của Ricci

Mặc dù Ricci có vẻ thành công về mặt học thuật, ông cũng gặp không ít khó khăn trên con đường truyền giáo. Cả đời ông chỉ rửa tội được mấy chục người. Ông bị đuổi nhà mấy lần ở Triệu Khánh, bị đánh phá và bị thương ở Thiều Châu, bị giam ở Thiên Tân. Ông cũng gặp khó khăn với các tăng sĩ Phật giáo và đạo sĩ Lão giáo, những người luôn bài bác và chỉ trích ông thậm tệ về chủ trương “bổ Nho dịch Phật” (kết thân với nhà Nho để thay thế nhà Phật). Về mặt hội nhập văn hóa, ông chủ trương đề cao Tam Cương Ngũ Thường của nhà Nho, chấp nhận gia lễ, tế Khổng Tử và cúng tổ tiên. Nhưng ông không chấp nhận Tam giáo đồng lưu (Nho Lão Thích cùng một dòng chảy) như một số người đương thời, mà cũng không khoan nhượng với những tập tục tôn giáo dân gian và thờ thần linh. Thế nên có nhiều người ngưỡng mộ ông nhưng không theo đạo.

Ngoài ra, Ricci còn bị một số người đương thời cũng như hậu thế chỉ trích vì phương pháp truyền giáo của ông. Họ cho rằng ông đã không mạnh dạn rao giảng Chúa Kitô, nhưng chỉ rao giảng một Đấng Thượng Đế chung chung. Vì muốn thu phục cảm tình của giới nho gia, Ricci đã không đi sâu vào giáo lý của Thiên Chúa giáo, nhưng dùng những triết lý tự nhiên và đạo đức để thu phục nhân tâm. Ông cho rằng trước khi người ta có thể đón nhận Tin Mừng mạc khải, người ta cần phải được gặp gỡ trên bình diện tự nhiên. Ngoài ra, hiểu được sự phản cảm của giới nho gia với Ảnh Chịu Nạn (Chúa Giêsu trần truồng trên thập giá), Ricci ít khi trưng bày và rao giảng về thánh giá. Cách chung, ông trình bầy Chúa Kitô như một minh sư và đấng làm phép lạ. Vì vậy, sau này ông đã bị các thừa sai khác, kể cả một số thừa sai dòng Tên như Nicolò Longobardo (người kế vị Ricci), chỉ trích phương pháp của ông là đi lòng vòng và có thể làm mờ nhạt các mầu nhiệm Kitô giáo. Họ cho rằng phương pháp của Ricci không giúp nhiều người theo đạo cho bằng trực tiếp rao giảng Tin Mừng như các thừa sai Đa minh và Phanxicô đã làm ở Nam Mỹ và Phi Luật Tân.

Đúng là trong quyển Thiên Chủ Thực Nghĩa (1603), Ricci chỉ trình bầy những khái niệm căn bản như là sự hiện hữu của Thiên Chúa và việc thưởng thiện phạt ác, nhưng trong quyển Thiên Chủ Giáo Yếu (1605), ông đã trình bầy cặn kẽ giáo lý cho các dự tòng, bắt đầu các tín lý về Thiên Chúa Ba Ngôi và Chúa Kitô, lịch sử cứu độ theo Kinh Thánh, các bí tích, các điều răn, và các kinh nguyện. Ricci đã hành xử như thế vì tình bạn với các nho sĩ. Ông muốn chia sẻ với họ một thế giới quan dựa trên nhân bản thay vì mạc khải. Khi họ mở lòng đón nhận Tin Mừng, ông mới dẫn họ vào giáo lý Thiên Chúa giáo dành cho các dự tòng. Vì quyểnThiên Chủ Thực Nghĩa nổi tiếng hơn Thiên Chủ Giáo Yếu rất nhiều, nên người ta dễ dàng lầm tưởng giáo lý của Ricci chỉ có thế thôi. Chính xác là phải nói quyển trước là sách minh giáo, quyển sau mới đúng là sách huấn giáo theo cách phân chia của thời kỳ này. Các sách về đạo lý Thiên Chúa giáo thường được chia làm hai loại: Cathechismus (sách hộ giáo dành cho người ngoài) và Doctrina Christiana (sách giáo lý cho người dự tòng và tín hữu).

Nhà Truyền Giáo Không Mỏi Mệt

Ricci là một người thành thạo ngôn ngữ, có trí nhớ tuyệt vời, tài ăn nói lưu loát và duyên dáng, và là một nhà khoa học tài năng trong lãnh vực toán học, vẽ bản đồ và thiên văn. Tài năng cũng như đầu óc cởi mở của ngài đã giúp ngài thu thập rất nhiều điều về văn hóa và đạo lý Trung Hoa, soạn khá nhiều tác phẩm, và cộng tác với nhiều người khác để đưa tư tưởng Thiên Chúa giáo và học thuật Tây Phương đến cho dân tộc Trung Hoa.

Tình bạn chính là cánh cửa và là phương pháp truyền giáo của Ricci. Ngoài việc soạn và dịch sách, Ricci rất bận rộn trong công việc thăm viếng và tiếp khách, nhất là trong thời gian ở Bắc Kinh. Các sĩ tử khắp nơi về kinh đi thi luôn tìm cách đến thăm vị học giả Tây phương này. Ricci đã phải sao chép nhiều quyển sách của mình để làm quà cho các thân hữu xa gần. Có thể nói ngài đã hết lòng vì tình bạn, ngài qua đời ở tuổi 57 vì làm việc quá sức.

Mặc dù hoàn cảnh lịch sử thay đổi, nhưng tinh thần của Matteo Ricci vẫn được trân trọng tại Âu Châu cũng như Trung Hoa. Trong năm 2009-2010, nhân dịp kỷ niệm 400 năm ngày giỗ của ngài (11/05/1610), có rất nhiều cuộc triển lãm, phim ảnh, hội thảo về cuộc đời, sự nghiệp, đóng góp của ngài cho tri thức và văn hóa của nhân loại. Tại Macerata quê hương của ngài, việc phong chân phước cho Ricci cũng bắt đầu được tiến hành. Ngài đã được nâng lên hàng “Tôi Tớ Thiên Chúa” (Servus Dei) do tinh thần truyền giáo không mỏi mệt và đặc biệt do đức hạnh của ngài.

Nhân dịp lần thứ 400 ngày giỗ của Tây Thái Lợi Mã Đậu tiên sinh, xin dâng lên ngài một nén hương để tưởng nhớ một người đã làm nhịp cầu Đông-Tây, người đã đưa Tin Mừng đến Viễn Đông bằng một cung cách thích nghi và hội nhập văn hóa, người đặt nền tảng vững bền cho việc xây dựng các giáo hội địa phương để rồi các thế hệ thừa sai sau này ở Trung Hoa, Việt Nam và Hàn Quốc đều gặt hái được những kết quả tốt đẹp.

Vượt Nghìn Trùng Mang Tin Mừng Cứu Độ

Cho Trăm Nhà Được Hạnh Phúc Yên Vui


Fonte:

Dòng Tên Việt Nam

20 agosto 2010